Lịch sử trận đánh Điện Biên Phủ

Nguyễn Ngọc Châu
Trích từ “Việt Nam – Lịch sử chính trị hai cuộc chiến tranh – Chiến tranh giành độc lập (1858-1954) và chiến tranh tư tưởng (1945-1975)ˮ của Nguyễn Ngọc Châu, lời tựa của sử gia Pierre Brocheux, được xuất bản bởi Editions Nombre 7, các phiên bản 2019, 2020 và 2022, và có sẵn trên Amazon. Thông tin tại link
https://drive.google.com/file/d/1wAjGtHC4jEfRBtUywxkPcbuf9oMy6ba6/view
Bản tiếng Anh ( “Việt Nam – Histoire politique des deux guerres- Guerre d’indépendance
(1858-1954) et guerre idéologique (1945-1975)ˮ do Giáo sư Janet Hoskins của Đại học Nam California, LA, có sẵn trên Amazon. Mục lục của nó nằm ở liên kết: https://drive.google.com/file/d/1_mTkP-trkc63qaQ8BPI2BoSp-8vBcmQY/view
Tướng Raoul Salan, nghỉ hưu, được thay thế vào ngày 8 tháng 5 năm 1953 với tư cách là Tổng tư lệnh các lực lượng Pháp ở Đông Dương bởi Tướng Henri Navarre. Khi đến đó, Tướng Navarre nhận thấy lực lượng phòng thủ của các vị trí, đồn bót, đồn canh, đồn lũy cố định, v.v. đã chiếm một phần lớn lực lượng sẵn có. Việt Minh có thể huy động tương đương 9
sư đoàn trong khi quân Pháp-Việt chỉ có thể bố trí bảy đơn vị cơ động và bảy tiểu đoàn nhảy dù, tương đương với ba sư đoàn. Và trong những khu vực được kiểm soát bởi 100.000 Lính Pháp ở các pháo đài và đồn bốt, 4.000 trong số 7.000 ngôi làng được coi là đã bị kiểm soát, toàn bộ hoặc một phần của Việt Minh.
Ông vạch ra một chiến lược do Tướng Salan soạn thảo nhằm (1) bảo vệ sông Hồng Đồng bằng có ý nghĩa chiến lược quan trọng cuối năm 1953 – đầu năm 1954; (2) bình định các khu vực do Cộng sản kiểm soát ở miền Trung và miền Nam Việt Nam vào mùa xuân năm 1954; và (3) khởi động một tổng tiến công truy đuổi và tiêu diệt quân cộng sản ở miền Bắc.
Để thực hiện kế hoạch này Pháp cần có lực lượng cơ động lớn hơn Việt Nam. Hồ Chí Minh, nhờ đó giải phóng quân Pháp khỏi các vị trí phòng thủ và đặt họ dưới sự kiểm soát của quân Pháp, sự kiểm soát của lực lượng ANV (Quân đội Quốc gia Việt Nam). Tất nhiên, những vùng lãnh thổ này là những vùng lãnh thổ điều đó lẽ ra đã được “bình địnhˮ bởi GAMO (Đơn vị di động) của Việt Nam Nhóm hành chính).
Việc phát triển và trang bị vũ khí cho lực lượng ANV là tất yếu, ông đã tới Paris nơi Hội đồng Quốc phòng Pháp, trong cuộc họp ngày 24 tháng 7 năm 1953, đã thông qua đề xuất của ông: giảm viện binh của quân Pháp và phát triển lực lượng của các nước liên kết.
Tháng 9 năm 1953, chính quyền Eisenhower đồng ý viện trợ quân sự bổ sung bằng 385 triệu USD cho kế hoạch của mình. Lợi dụng mùa mưa cản trở hoạt động của Việt Minh, Navarre đã phát động một loạt chiến dịch ở đồng bằng sông Hồng và các khu vực mà nó kiểm soát. Như vậy Chiến dịch Én là cuộc tấn công Lạng Sơn vào ngày 17 tháng 7 nhằm tiêu diệt vũ khí của quân Việt Minh đến từ Trung Quốc. Do đó, 5.000 tấn vũ khí, đạn dược, chất nổ và xăng dầu đã bị tiêu hủy, tan thành khói.
Tướng Võ Nguyên Giáp bèn lên kế hoạch tấn công đồng bằng sông Hồng để phá chiến dịch bình định của người Pháp-Việt. Vào ngày 27 và 29 tháng 8 năm 1953, để đáp lại báo cáo của họ gửi tới Bắc Kinh, Các cố vấn Trung Quốc nhận được hai bức điện kiên quyết chọn Tây Bắc (Tây Bắc) và các chiến dịch Lào, chứ không phải cuộc tấn công vào vùng đồng bằng. Cuộc họp của ĐLĐVN (Đảng Lao động Việt Nam – Đảng Cộng sản Việt Nam) Bộ Chính trị chấp thuận sự thay đổi này của chiến lược.
Đầu tháng 11 năm 1953, chiến dịch Đông Xuân 1953-1954 được quyết định bởi Việt Minh và các cố vấn Trung Quốc tập trung ở Lai Châu và sau đó tấn công vàoThượng Lào.Văn khố Việt Minh không đề cập đến việc cố vấn Trung Quốc trong việc lựa chọn chiến lược, Bộ tham mưu của Giáp là tác giả duy nhất. Người Pháp chỉ ra rằng vào cuối Tháng 11, quân tiến lên phía bắc đồng bằng (Phú Thọ, Yên Bái, Thái Nguyên) đánh cắt đường Hải Phòng-Hà Nội.
Sau đó những đội quân này đổi hướng và rời đi theo hướng Tây Bắc. Trung Quốc cho biết ngày 10/10/1953 Bắc Kinh báo cho Hồ Chí Minh bổ nhiệm Ngụy Quốc Thanh làm Tổng cố vấn quân sự và Lui Gui Bo làm Tổng Cố vấn Chính trị của Việt Minh và Ngụy Quốc Thanh, trên đường trở về sau chuyến đi tới Bắc Kinh vào ngày 27 tháng 10 năm 1953, tái khẳng định đề xuất của Bắc Kinh về chiến lược quân sự của Việt Minh và trao cho Hồ Chí Minh Kế hoạch Navarre mà người Trung Quốc đã có được.
Bộ Tổng tham mưu Pháp có nhiệm vụ bảo vệ Lào, nước duy nhất trong ba nước tuyên bố không thảo luận về sự độc lập của nó. Người Pháp không đủ quân để ngăn chặn Việt Minh trên mọi con đường dẫn sang Lào nên trường hợp trại cố thủ Na Sản trở thành một ví dụ. Một trại cố thủ được dựng lên để bảo vệ con đường sang Lào, nơi bị Việt Minh lực lượng phá tan. Thế là câu chuyện Điện Biên Phủ bắt đầu.
1. Trận Điện Biên Phủ (13/3 – 7/5/1954)
Đó là một lưu vực dài 16 km và rộng 9 km được bao quanh bởi những ngọn đồi có độ cao thay đổi từ 400 m đến 550 m và vượt qua sông Nam Yun. Nó nằm cách Hà Nội 450 km và gần với ranh giới Lào. Cách vùng kháng chiến Việt Bắc của Việt Minh ở phía Bắc 500 km, một chặng đường dài để cung cấp cho một đội quân lớn. Người Pháp kêu gọi người Mỹ cho họ mượn máy bay có người lái (35 chiếc hạng trung máy bay ném bom B 26) và các dịch vụ bảo trì tương ứng (200 người).
Tướng Navarre cử sang Điện Biên Phủ do Đại tá de Castries chỉ huy 12 tiểu đoàn bộ binh, hai pháo binh 105 mm tiểu đoàn, ba hàng pháo 185 mm, mười xe tăng… Bốn tiểu đoàn nhảy dù tham chiến làm lực lượng tiếp viện từ ngày 16 tháng 3 đến ngày 1 tháng 5 năm 1954. Việc tiếp nhiên liệu phải được thực hiện bằng máy bay có thể hạ cánh trên đường băng ở giữa thiết bị.
Về phía Việt Minh, lực lượng gồm 11 trung đoàn bộ binh thuộc sư đoàn 304,308, 312, 316 và sư đoàn pháo binh 351 gồm 1 trung đoàn công binh, 2 trung đoàn pháo binh và một trung đoàn phòng không do Võ Nguyên Giáp điều động. Đối với trận chiến này,Việt Minh nhận từ Trung Quốc, ngoài vũ khí và pháo binh, 200 xe tải, 10.000 thùng xăng và 1.700 tấn gạo. Việc cung cấp của Việt Minh phải được thực hiện qua 500 km đường bộ và đường mòn, một phần trong số đó là đường đèo và dưới hỏa lực của máy bay Pháp: 4.200 tấn gạo (không bao gồm xe vận tải), 100 tấn gạo rau củ, 100 tấn thịt, 80 tấn muối, 12 tấn đường…, vũ khí, đạn dược. Đường từ Tuần Giáo đến Điện Biên Phủ (82 km), rộng 1 m, được mở rộng trong một tháng tới cho phép xe tải vận chuyển pháo cách Điện Biên Phủ tới 15 km. Từ đó, nó được kéo hoặc vận chuyển các phụ tùng thay thế trên xe đạp được chế biến để chịu tải trọng trên 200 kg, trên đường băng mở rộng tới 3 m được ngụy trang hoàn toàn để thoát khỏi sự cảnh giác của máy bay địch. Theo số liệu của Việt Minh, 260.000 người đã được huy động cho nhiệm vụ khó khăn này. Ngày 20/11/1953, 2 tiểu đoàn nhảy dù gồm BPC số 6 của Bigeard và Tiểu đoàn 2 thuộc trung đoàn lính dù số 1 (II/1st RCP) của Bréchignac chiếm thung lũng Điện Biên Phủ do Việt Minh trấn giữ thì đến chiều, 4 chiếc khác được thả xuống đó, trong đó có Tiểu đoàn 5 BPVN (Tiểu đoàn Nhảy dù Việt Nam) của quân đội Pháp. Đó là Chiến dịch Castor.
Sau đó là việc xây dựng trại cố thủ. Để đảm bảo phòng thủ trên đường băng có bốn điểm hỗ trợ: Huguette, Dominique, Claudine và Eliane. Trung tâm chỉ huy chính được bảo vệ bởi Beatrice, Gabrielle và Anne-Marie. Isabelle là điểm yểm trợ cách thiết bị chính 5 km về phía nam với xe tăng và pháo binh. Những vị trí đó tạo nên những điểm hỗ trợ này có những con số để nhận dạng chúng (Eliane 1, 2, Dominique 3, v.v.)

Hình 14. Điện Biên Phủ và các điểm hỗ trợ
Ngày 6/12/1953, Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị quyết định mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ theo chỉ thị của Hồ Chí Minh: “Chiến dịch này rất quan trọng, không chỉ về mặt quân sự mà còn cả về chính trị, không chỉ đối với đất nước mà còn đối với thế giới. Vì vậy, toàn thể chiến sĩ, toàn dân và toàn Đảng phải tập trung thực hiện. bằng mọi giá. »(1)
Trong quá trình chuẩn bị Điện Biên Phủ, ngày 20/12/1953, các đơn vị Việt Minh tập trung ở Vinh, Hà Tĩnh hành quân xuyên rừng rậm về phía Tây và nghi binh đánh lừa quân Pháp một cách bất ngờ các đồn Pháp ở miền Trung và hạ Lào. Vào ngày 28 tháng 12, Việt Minh đến sông Mê Kông và chiếm được Thakhek, cắt đứt liên lạc giữa miền bắc và miền nam Lào. Quân Pháp gửi tiếp viện đến kịp thời và thành lập một căn cứ ở Seno, nhưng nơi này phải chịu trận chiến kéo dài bốn ngày. Những cuộc tấn công của Việt Minh đều thành công khiến Navarre sau đó phát động Chiến dịch Atlante chống lại Liên Khu 5 bao gồm trung tâm Quy Nhơn, Quảng Ngãi, từ đèo Hải Vân đến Đèo Cả. Ngày 20 tháng 1 năm 1954, quân Pháp tới Quy Nhơn và Tuy Hòa cùng với đơn vị GAMO (lực lượng di động) và TDKC của Việt Nam để bình định khu vực. Thay vì chống trả, Việt Minh tấn công Pleiku, Kontum và An Khe trên cao nguyên, khiến Navarre phải đưa quân tiếp viện lên cao nguyên làm phân tán lực lượng của Pháp.
Cuối tháng 11 năm 1953, Sư đoàn 308 Việt Minh đến phía bắc Điện Biên Phủ. Sau đó chiếm Lai Châu ngày 13 tháng 12, Sư đoàn 316 đã hoàn thành vòng vây. Chiến dịch Điện Biên Phủ của Việt Minh bắt đầu vào ngày 27 tháng 12 năm 1953 khi việc bao vây các cứ điểm cố thủ trại đã hoàn thành.
Chiến thuật “Tốc Chiến Tốc Thắng” (đánh nhanh đánh mạnh) của Việt Minh được thông qua ngày 14 tháng 1 năm 1954 và ngày 20 tháng 1 được chọn là ngày bắt đầu trận chiến.
Dự trù chiến thắng sẽ đạt được trong ba ngày chiến đấu vì quân Pháp vẫn chưa hoàn thành xong kế hoạch phòng thủ cũng như tiến công của họ. Sư đoàn 308 sẽ đột nhập sâu vào trại từ phía tây để tới sở chỉ huy của de Castries, và các Sư đoàn 312 và 316 tiến vào từ phía đông sẽ chuẩn bị mọi tình huống cho những nhiệm vụ quan trọng nhất tại các điểm hỗ trợ. Thỏa thuận được nhất trí giữa Việt Minh, Ban Chấp hành Trung ương Đảng và các cố vấn Trung Quốc.
Do sự chậm trễ trong việc bố trí một số loại pháo, ngày thời điểm bắt đầu trận chiến được dời sang ngày 25 tháng 1 và khi nó không còn là bí mật đối với người Pháp thì sẽ là ngày 26 tháng Giêng. Đêm 25 tháng Giêng, tướng Võ Nguyên Giáp nhớ lại trận Na Sản đã nhận ra rằng các đơn vị pháo binh và bộ binh của ông vẫn còn thiếu kinh nghiệm trên chiến trường như thế này và rằng các trận chiến cho đến nay đều diễn ra vào ban đêm và ở những nơi dễ ẩn náu. Ông bèn triệu tập một cuộc họp vào ngày 26 tháng 1, sau đó ông quyết định thay đổi chiến thuật. Bấy giờ họ đang đi đến mục tiêu “ chắc chắn, tiến chắcˮ (tấn công chắc chắn và tiến lên chắc chắn).
Văn khố Việt Minh và Hồi ký của Võ Nguyên Giáp chỉ ra rằng sự thay đổi chiến thuật này là quyết định của Võ Nguyên Giáp đi ngược lại lời khuyên của các cố vấn Trung Quốc. Trong những các bức điện người Trung Quốc, ngày 24 và 27 tháng 1 từ Bắc Kinh gửi cho Wei Guo Qing chỉ thị không tấn công « đồng loạt tổng tấn công» mà là « tách ra, bao vây địch rồi tiêu diệt từng nhóm một ». Và các cố vấn Trung Quốc đã thúc đẩy Việt Minh từ bỏ chiến thuật tấn công trực tiếp bằng vũ lực.
Ngày 24 và 25 tháng 1 năm 1954, thông tin khiến người Pháp nghĩ rằng một cuộc tấn công sắp xảy ra. Nhưng vài ngày sau, Sư đoàn 308 nghi binh rời hiện trường và hành quân theo ba hướng về phía Luang Prabang, tiêu diệt các đồn Pháp trên đường đi của họ. Ngày 3 tháng 2 năm 1954, các bộ phận của đạo quân này đã xuất hiện tầm 100 km về phía bắc thủ đô Lào, và ngày 22 tháng 2, cách thủ đô Vạn Tượng 30 km thì toàn sư đoàn quay trở lại và trở lại Điện Biên Phủ. Tất cả những cuộc di chuyển quân và tiếp viện mà Bộ Tổng tham mưu Pháp phải cử, huy động toàn bộ lực lượng của mình, đặc biệt là lực lượng không quân, nơi có dịch vụ bảo trì ước tính rằng cuối cùng chúng chỉ hoạt động được dưới 70%.
Vấn đề chính là đường băng sân bay Mường Thanh phải bị phá hủy để ngăn cản việc tiếp tế. Để làm được điều đó cần phải có pháo bắn xa xung quanh những ngọn núi xa từ 5 đến 7 km hoặc đi lên các ngọn đồi thấp hơn vốn là cứ điểm của quân Pháp, để đặt pháo binh. Bộ Tổng tham mưu Pháp coi giải pháp đầu tiên là không khả thi, và Trung tá Charles Piroth, tư lệnh pháo binh Điện Biên Phủ đã nói rằng ngay cả khi Việt Minh làm được điều này thì súng 155 mm của ông tại Điện Biên sẽ tiêu diệt nó.
Sư đoàn 308 lên đường tấn công Lào, thu hút sự chú ý của quân Pháp lần này pháo binh được kéo lên núi (hình 15), trong những hang động được ngụy trang khéo léo. Những thứ quá nặng đã được tháo dỡ và mang đi từng bộ phận. Độ dốc có nơi có thể lên tới 60 độ nghiêng. Việc vận chuyển được thực hiện bằng máy kéo khi còn có thể, sau đó trên lưng người hoặc xe đạp trên con đường do quân đội Việt Minh vạch ra xuyên qua rừng rậm và sườn núi bao quanh lưu vực. Bốn tiểu đoàn Việt Minh được trang bị pháo phòng không 37 mm đã có mặt để chống lại máy bay của người Pháp, đến trực tiếp từ Trung Quốc sau khóa huấn luyện của họ. Dựa trên kinh nghiệm của họ trong Hàn Quốc, Trung Quốc khuyên dùng súng bắn tỉa làm suy yếu tinh thần địch và xây dựng công sự và chiến hào để gặm nhấm mặt đất và tiếp cận các vị trí của quân Pháp.
Trận chiến bắt đầu vào đêm 13/3 và kéo dài đến sáng 15/3/1954 theo chiến thuật tương tự: hỏa lực pháo 105 mm của Sư đoàn pháo binh hạng nặng 351 của Việt Minh, hàng nghìn quả đạn pháo trong vài giờ, sau đó tấn công bằng biển người, luôn vào ban đêm. Beatrice gục ngã ngay ngày đầu tiên và Gabrielle tử trận vào ngày thứ hai. Sáng ngày 15 tháng 3, lực lượng phản công của Pháp gồm sáu xe tăng đến tiếp viện nhưng đã quá muộn. Cùng ngày, chỉ huy pháo binh của Điện Biên Phủ Charles Piroth tự sát.
Sau hai ngày đầu tiên tốn kém về nhân mạng của Việt Minh, họ đã chọn một cuộc bắn phá dữ dội các cứ điểm quan trọng trong trận địa cố thủ, trong đó có các điểm pháo binh của Pháp. Nó thực hiện nhanh chóng khiến đường băng sân bay ĐBP không thể sử dụng được vào ngày 27 tháng 3. Nguồn tiếp vận của trại cố thủ ngày càng gặp khó khăn trước pháo phòng không 37 mm của Giáp. Nhiều chiến hào (dài 45 km theo Giáp) và chòi thông tin hàng trăm km được đào để tiếp cận các trạm hỗ trợ khiến số ít dù tiếp vận thực phẩm súng đạn rơi chủ yếu vào tay Việt Minh. Các cuộc phản công của Pháp có một số thành công, nhưng những gì lấy lại được lại bị mất trên đường trở vào căn cứ. Mọi nỗ lực giải tỏa ùn tắc bằng thả dù cứu trợ thất bại hoàn toàn.
Đợt tấn công thứ hai của Việt Minh diễn ra từ ngày 30 tháng 3 đến ngày 4 tháng 4 năm 1954, xóa đi hầu hết các điểm hỗ trợ. Cuộc tấn công cuối cùng bắt đầu vào ngày 1 tháng 5 với việc Việt Minh sử dụng Katyusha lần đầu tiên (tiếng Nga: Катюша) có nghĩa là “Các cơ quan của Stalinˮ, nhiều bệ phóng tên lửa có sức tàn phá khủng khiếp cùng các cuộc tấn công đến từ pháo 75 mm không giật, do hai tiểu đoàn trực tiếp mang đến từ Trung Quốc sớm hơn dự tính. Các điểm hỗ trợ cuối cùng của Pháp đã bị bất lực hoặc vô hiệu hóa: Eliane 1 vào đêm 1/5, Dominique 3 và Huguette 5 vào đêm ngày 2 tháng 5, Huguette 4 vào đêm ngày 4 tháng 5, Eliane 2 vào đêm ngày 6 tháng 5 bị hai tấn thuốc nổ thổi bay trong đường hầm dưới đồi Eliane 3, 4 và 10 sáng 7/5. (KBCHNTV: Elaine 2 còn gọi là đồi A1, nhà báo NPH đã đến đây làm phóng sự cuối năm 2015.)
Trưa ngày 7 tháng 5 năm 1954, de Castries, được bổ nhiệm làm tướng cùng ngày, được lệnh từ Hà Nội về ngừng bắn. Điều này có hiệu lực lúc 5h30 chiều. Sư đoàn 308 Việt Minh đã tham gia tất cả các trận đánh, bao gồm cả chiếc RC4, đã ra đòn cuối cùng vào ngày hôm đó.
Vào ngày 29 tháng 3 năm 1954, khi Gabrielle và Beatrice đã ngã xuống, Tham mưu trưởng quân đội Pháp Quân đội, Tướng Paul Ély sang Mỹ nhờ họ can thiệp cứu Điện Biên Phủ. Nhưng Quốc hội Mỹ áp đặt sẵn kế hoạch 1) Sự độc lập do Pháp trao cho ba nước Đông Dương; 2) Pháp tiếp tục chiến đấu ngay cả khi Điện Biên Phủ thất thủ; và 3) sự tham gia của người khác các nước, trong đó có Vương quốc Anh.
Người này từ chối vì sợ rằng người Trung Quốc sẽ phản ứng bằng cách gửi quân như ở Triều Tiên, với việc hậu quả của một cuộc chiến tranh thế giới mới nếu Liên Xô cũng tham gia. Ngày 27 tháng 4 năm 1954, Thủ tướng Anh Bộ trưởng Winston Churchill đã tiếp Đại sứ Pháp René Massigli đến xin ông giúp đỡ và được trả lời: «Nếu Vương quốc Anh có thể rút quân khỏi Ấn Độ thì Pháp có thể cũng rút quân khỏi Đông Dương ».
Về phía Pháp, còn lại 11.721 binh sĩ, trong đó có 4.436 người bị thương. Với sự đồng ý của Việt Minh, Hội Chữ thập đỏ đã có thể sơ tán 858 người bị thương được coi là trầm trọng. Quân Pháp có: 1.726 binh sĩ thiệt mạng, 1.694 người mất tích, 1.161 người đào ngũ và 5.234 người bị thương, 56 máy bay và 2 trực thăng bị bắn rơi khi đang bay hoặc rơi xuống đất và 186 chiếc bị ảnh hưởng bởi DCA. Trong số 10.863 tù binh, có 3.578 người bị thương, chỉ có 3.290 người được trả lại cho chính quyền Pháp, tức là 7.573 tù nhân chết.
Ở Trung Quốc và các cuộc chiến tranh ở Việt Nam, 1950-1975, Qiang Zai, đề cập đến các kho lưu trữ của CHND Trung Hoa, đã tuyên bố rằng «Sự trợ giúp của Trung Quốc là cần thiết cho chiến thắng của Việt Nam trước Pháp. »
2. Hậu quả thất bại Điện Biên Phủ
Thất bại Điện Biên Phủ ngày 7 tháng 5 năm 1954 đã khiến bộ tư lệnh quân đội Pháp phải vào cuộc Paris. Ủy ban Quốc phòng lập tức cử Tướng Paul Ély lên chức cao ủy viên và tổng tư lệnh Đông Dương, do tướng Raoul Salan làm phó đảm bảo an ninh cho lực lượng Pháp. Bất chấp sự phản đối của ông cho rằng Việt Minh đã kiệt sức bởi trận Điện Biên Phủ và không thể kêu gọi tổng nổi dậy, Tướng Navarre được lệnh rút quân về phía tây và nam sông Hồng, với ý định tập hợp lại chúng ở vùng lân cận Hải Phòng. Kế hoạch cũng đã được thảo luận để rút toàn bộ quân đội Pháp khỏi phía bắc vĩ tuyến 18 và bình định toàn bộ miền nam.
Không còn vấn đề gì với Liên hiệp Pháp vào ngày 28/4/1954, khi Pháp cuối cùng đã đồng ý đưa ra tuyên bố chung với Nhà nước Việt Nam về “hoàn tất độc lập” của Việt Nam, ba ngày sau Bảo Đại, trong đó thực chất đã nói rằng, mặc dù những lời hứa của Pháp, Việt Nam vẫn chưa có những bảo đảm hiệu quả cho nền độc lập của mình và thống nhất. Nước Pháp lúc này chỉ âm mưu “nghỉ hưu trong danh dự“.
Trong lòng người Việt, đó là cảm giác vừa vui vừa lo. Niềm vui và niềm tự hào đã ở trong trái tim của mọi người, dành cho người Pháp, những người đã tự coi mình là những kẻ thống trị kiêu ngạo cho gần một thế kỷ, đã bị đập tan âm mưu thực dân thống trị. Nhưng trong số những người từng trải qua cuộc khủng hoảng nông nghiệp năm 1953 cải cách của Việt Minh, hoặc những người lo sợ trước viễn cảnh sống ở một đất nước có chế độ độc tài cộng sản, niềm vui này lại cộng thêm nỗi sợ hãi, nỗi buồn và sự e ngại.
(1) Hồ Chí Minh (2009), Toàn tập (Hồ Chí Minh (2009), The Integral), ed. Chính trị quốc gia





Comments
Post a Comment